vi-mot-nen-nong-nghiep-an-toan-ben-vung
Vì một nền nông nghiệp an toàn, bền vững
3/20/2018 1:53:39 PM Đăng bởi CÔNG TY TNHH CICA VIỆT NAM (0) bình luận

Mất vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) và ô nhiễm môi trường đang từng ngày, từng giờ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe người dân cả nước nói chung và người dân Vĩnh Phúc nói riêng. Vì vậy, việc tuyên truyền, vận động nông dân “Vì một nền nông nghiệp an toàn, bền vững; môi trường xanh- sạch- đẹp” là yêu cầu cấp thiết, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

 

Nông dân xã Vân Hội (Tam Dương) xây dựng nhà lưới trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh Thế Hùng

 

Những năm gần đây, với tốc độ đô thị hóa ở tỉnh ta diễn ra nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp, song nông nghiệp vẫn giữ vai trò “trụ đỡ” đối với phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Với quan điểm “Lấy phát triển công nghiệp và dịch vụ làm nền tảng để tăng đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp", tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ xây dựng các vùng trồng trọt, sản xuất hàng hóa, chăn nuôi tập trung; các vùng sản xuất rau an toàn; địa chỉ cung cấp nông sản thực phẩm an toàn. Đồng thời, triển khai các biện pháp quản lý Nhà nước về sản xuất, kinh doanh, giết mổ, chế biến, tiêu thụ nông sản, hàng hóa và bảo vệ môi trường…Hiện toàn tỉnh có 6 địa chỉ cung cấp thực phẩm an toàn; hơn 1.740 ha rau an toàn (VietGAP), sản lượng đạt khoảng 40 nghìn tấn (chiếm 21% sản lượng rau quả của tỉnh); 10 HTX và tổ nhóm sản xuất rau an toàn.

Tuy nhiên, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu vẫn là hộ gia đình, quy mô nhỏ, đất đai manh mún. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định, tính cạnh tranh không cao. Đặc biệt, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Theo đánh giá của Hội Nông dân tỉnh, tình trạng mất vệ sinh ATTP ở tỉnh ta có nguy cơ ở hầu hết các khâu, nhất là khâu sản xuất. Hàng năm, tổng diện tích gieo trồng của tỉnh gần 96 nghìn ha các loại cây trồng, trong đó lúa gần 59 nghìn ha; ngô 15 nghìn ha; rau các loại trên 9 nghìn ha; còn lại các loại cây trồng khác, do đó, nhu cầu sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật là rất lớn. Bình quân, mỗi năm nông dân trong tỉnh sử dụng gần 400 tấn thuốc BVTV các loại, tương ứng thải ra môi trường khoảng 40 tấn vỏ bao bì, chai lọ còn tồn dư hóa chất và phần lớn chưa được thu gom, xử lý đúng quy định; 13-16 nghìn tấn phân bón hóa học, tuy nhiên, cây trồng chỉ hấp thụ một phần, phần còn lại khuếch tán vào không khí, ngấm vào đất, nguồn nước, gây ô nhiễm môi trường.

Tương tự, trong chăn nuôi, tình trạng nông dân, chủ trang trại lạm dụng thuốc kháng sinh vẫn khá phổ biến, nhất là việc sử dụng chưa đúng chủng loại, điều trị bệnh khi chưa cần thiết. Năm 2014, toàn tỉnh mới có 5 trang trại chăn nuôi được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP; chưa có cơ sở đạt chứng nhận chăn nuôi an toàn dịch bệnh. Mặt khác, chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn và nằm trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường, khó kiểm soát dịch bệnh, mở rộng quy mô sản xuất và áp dụng quy trình thực hành chăn nuôi tốt. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, tỉnh ta có khoảng 89 ngàn hộ chăn nuôi, mặc dù tỷ lệ chuồng trại hợp vệ sinh đạt trên 70% nhưng ước tính hằng năm chất thải chăn nuôi vẫn thải ra khoảng 970 ngàn tấn, trong đó chỉ có trên 500 ngàn tấn được xử lý; còn lại thải trực tiếp ra hồ, ao, kênh mương. Ước tính 1 tấn phân chuồng tươi phát thải vào không khí khoảng 0,24 tấn CO­­­2 gây nên hiệu ứng nhà kính và lây lan bệnh cho con người.

Cùng với đó, lượng rác thải sinh hoạt nông thôn hiện nay khoảng 500 tấn/ngày, trong đó thu gom, xử lý tạm thời khoảng 300 tấn (60%), số còn lại chưa được phân loại, xử lý đúng quy định. Đặc biệt, sau mỗi vụ thu hoạch, ước tính hàng năm trên địa bàn tỉnh có khoảng 600 nghìn tấn rơm, rạ và các phụ phẩm nông nghiệp khác thải ra. Theo tính toán của các chuyên gia môi trường Việt Nam, 1 tấn rơm rạ, phụ phẩm khi đốt thải ra khoảng trên 50kg chất thải hữu cơ độc hại; 114 kg CO, 1,3kg CO­­­2 và 1,7kg bụi…Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe người dân.

Để đẩy mạnh phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, Hội Nông dân tỉnh tham mưu cho tỉnh xây dựng Đề án tuyên truyền, vận động nông dân “Vì một nền nông nghiệp an toàn, bền vững và môi trường nông thôn xanh- sạch- đẹp”. Ông Trịnh Đình Mao, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh cho biết, mục tiêu Đề án, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tránh nhiệm của nông dân, người trực tiếp sản xuất khâu đầu nông sản phẩm, hàng hóa. Theo đó, Hội sẽ phát động ra quân ở 3 cấp, từ tỉnh đến cơ sở; thực hiện ký cam kết áp dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp an toàn, bảo vệ môi trường cho 100% hộ hội viên nông dân; tập huấn, tuyên truyền phổ biến đến toàn thể cán bộ hội nông dân các cấp từ tỉnh đến chi hội và một bộ phận hội viên nông dân. Xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn, bảo vệ môi trường trên cơ sở các nhóm nông dân liên kết như chăn nuôi gia súc “4 không- 2 sạch” (không chất tạo nạc, không thuốc tăng trọng, không lạm dụng kháng sinh, không sử dụng chất cấm khác; sạch vật nuôi, sạch chuồng trại); chăn nuôi gia cầm “3 không- 2 sạch”; trồng trọt theo nguyên tác “4 đúng”; mô hình cộng đồng dân cư “ 3 xanh- 3 sạch- 3 đẹp" và mô hình cải thiện chất lượng nước và giữ gìn cảnh quan ao làng...

Để thực hiện mục tiêu trên, Hội Nông dân tỉnh sẽ gắn các nội dung thực hiện của đề án với quản lý cho vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp theo hướng sử dụng vốn vay đúng mục đích, đảm bảo an toàn vốn quỹ, an toàn nông sản hàng hóa, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển các hình thức tổ chức sản xuất mới. Các hộ tham gia dự án vay vốn phải có cam kết áp dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp an toàn, bảo vệ môi trường và là thành viên của nhóm nông dân liên kết, tổ hợp tác, hợp tác xã, đồng thời chịu sự giám sát việc chấp hành Luật An toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng. Phân tích các mẫu đại diện, kiểm tra chất lượng nông sản hàng hóa, mức độ cải thiện môi trường và tổ chức điều tra xã hội học về sự chuyển biến nhận thức, ý thức, sự hài lòng của nông dân trong quá trình thực hiện để đánh giá kết quả, hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động…

Bình luận
Nội dung này chưa có bình luận, hãy gửi bình luận đầu tiên của bạn.
VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN